Ba bệ thờ đá hoa sen thời Trần ở Hà Nam

Thứ tư - 15/04/2020 08:44
Đó là các bệ thờ được làm từ loại đá xanh đen tại chùa Long Hoa, thôn Động Tứ (xã Liêm Cần, Thanh Liêm); chùa Lam Sơn, thôn Thụy Sơn (xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng); chùa Phúc Lâm (xã Tiên Ngoại, thị xã Duy Tiên).

Trong 3 bệ thờ đá hoa sen chỉ có bệ ở chùa Long Hoa là ghi niên đại tạo tác vào tháng 6 năm Đại Trị thứ 5 (1364) Triều vua Trần Dụ Tông. Hai bệ còn lại căn cứ vào hoa văn trang trí có thể xác định có niên đại thời Trần nhưng muộn hơn bệ ở chùa Long Hoa.

bệ đá

Chùa Long Hoa, thôn Động Tứ, xã Liêm Cần (Thanh Liêm) - một trong những ngôi chùa có bệ thờ được làm từ loại đá xanh đen - di vật thời Trần. Ảnh: Thế Trang

Trong phạm vi lãnh thổ Đại Việt thời Trần, cho đến nay đã phát hiện được hơn 50 bệ thờ. Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu chuyên về bệ đá hoa sen thời Trần thì ba bệ ở Hà Nam rất có giá trị, vừa có những điểm chung với các bệ thờ của các địa phương khác vừa có những chi tiết mang đậm sắc thái riêng, ngay giữa ba bệ cũng không đồng nhất.

Trước hết về cấu trúc, bệ ở các chùa Long Hoa và Phúc Lâm có nhiều chi tiết khác lạ, không theo quy chuẩn chung. Mặt bệ không được tạo phẳng so với phần các múi cánh sen mà được tạo thêm một lớp nhô cao hình thành một hoặc nhiều đường diềm trơn. Riêng bệ ở Lam Sơn sau hai lớp cánh sen là ba đường diềm liên tiếp, rồi đến một lớp cánh sen ngửa. Cách cấu tạo này chưa hề gặp trên bệ thờ hoa sen ở các địa phương khác.              

Tiếp đến là trang trí, bệ ở các chùa Long Hoa và Phúc Lâm có hoa văn trau chuốt. Bệ được chạm đẹp nhất trong số các bệ thờ thời Trần là bệ ở chùa Long Hoa. Trừ hoa sen được chạm bình thường, còn lại con rồng, sư tử, hoa cúc,... đều chạm khắc công phu, tỷ mỷ tạo cho con rồng một thế uốn lượn rất uyển chuyển, thanh thoát; sư tử có thế nhảy mạnh mẽ; hoa cúc sinh động, hấp dẫn với nhiều dạng vẻ. Cũng ở bệ này lần đầu tiên xuất hiện hoa văn chữ vạn gấp khúc hình thoi, cúc dây dạng "tay mướp", dãy núm tròn. 

Bệ ở chùa Phúc Lâm cũng được chạm khắc tinh tế: Hình rồng trau chuốt mượt mà. Nhưng hấp dẫn nhất là những hoa văn lạ tập trung trên các đường diềm, đan xen bởi các ô có hình như ba cái móc xoay tròn; ba hình thoi đan móc vào nhau; hoa cúc tròn và các hoa văn hình học. Diềm hồi văn mạng "kim qui" bên trong có chấm tròn và tua giống trang trí vòng cổ của các vũ nữ, đây là điểm độc đáo nhất của bệ ở chùa Phúc Lâm, không gặp ở các bia thời Trần khác.

Ra đời vào ba thập niên cuối thế kỷ XIV, ba bệ thờ đá hoa sen thời Trần ở Hà Nam phản ánh những nét kế thừa nghệ thuật Lý và nghệ thuật Trần trước đó. Đồng thời có những chi tiết hoa văn trên bệ là cơ sở để phát triển trong thời Hậu Lê.

Nghệ thuật Lý trên đất Hà Nam đến nay mới được phát hiện ở chùa Đọi Sơn (xã Đọi Sơn, thị xã Duy Tiên). Trong các hoa văn trang trí ở đây chủ yếu là hình con rồng, chúng ta có thể tìm thấy di ảnh trong hình tượng rồng ở các bệ thờ. Tuy có xu thế mập và khỏe hơn, song các con rồng bệ thờ thời Trần vẫn phảng phất dáng vẻ mềm mại, trơn tru của con rồng thời Lý, nhất là tư thế uốn lượn uyển chuyển kiểu rồng rắn. Bệ ở chùa Long Hoa có lẽ là một tiêu bản của kiểu rồng này. Con rồng ở đây có thân hình rắn uốn dài với 13 đến 17 khúc mềm mại. 

Và cũng giống như ở trán bia "Sùng Thiện Diên Linh”, hai con rồng không chầu vào mặt nguyệt mà chầu vào hàng chữ "Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi", thì bệ ở chùa Long Hoa đôi rồng lại chầu vào ba bông cúc. Kiểu không chầu vào mặt nguyệt này, giống như ở bia Sùng Thiện Diên Linh chầu vào chữ còn gặp trên bia "Ngô gia Thị bi" ở chùa Dầu (thôn Trung, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý) có niên đại ước đoán được dựng vào khoảng niên hiệu Đại Trị thứ 8 (1366) đến Quang Thái 8 (1395), một tấm bia thời Trần có niên đại tương đương với ba bệ thờ đá hoa sen.

Các bộ phận mang yếu tố người của hình tượng chim thần ở các bệ thờ thời Trần có thể thấy đã được tiếp thu một phần từ hình ảnh vũ nữ trong nghệ thuật thời Lý và phát triển thêm. Chẳng hạn như hình vũ nữ trên những viên gạch đất nung tìm thấy ở chùa Đọi, cổ tay đều đeo vòng, thì ba bệ ở các chùa Long Hoa, Phúc Lâm, Lam Sơn ta cũng thấy chi tiết đó.

Trước khi có bệ thờ, thì nhiều di tích Trần nổi tiếng đã xuất hiện ở Thăng Long, Tam Đường, Kiếp Bạc, Yên Sơn, Tức Mặc. Bệ thờ đã kế thừa một số yếu tố nghệ thuật của các di tích Trần có trước. Nổi bật là cấu trúc con rồng với các đặc trưng uốn lượn hình sin đều đặn, mào lửa, bờm dài. Hoa cúc ở bệ chùa Long Hoa khá gần hoa cúc trên cánh cửa gỗ chùa Phổ Minh (xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định) (thế kỷ XIII) và gạch lát nền đền Kiếp Bạc (cuối thế kỷ XIII). Hoa cúc dây trên các bệ tương tự cúc dây trên thành bậc chùa Phổ Minh. Các kiểu cách hoa sen cũng là kế thừa từ hoa sen trên bộ cánh cửa gỗ và tháp chùa Phổ Minh.

Đồng thời các bệ thờ không chỉ có kế thừa mà đã phô diễn tính mới lạ không thể tìm thấy trong nghệ thuật thời Trần thế kỷ XIII, nửa đầu thế kỷ XIV. Nổi bật là các hoa văn mới lạ lần đầu tiên bắt gặp ở bệ thờ chùa Phúc Lâm.

Sự gần nhau của điêu khắc bệ thờ với nghệ thuật thời Trần chủ yếu là phong cách và thần thái. Nhưng trên bệ thờ đều đã khác đi trong bố cục và tư thế mới, chẳng hạn dạng rồng uốn hình chữ u (bình thường và lộn ngược). Đến tư thế vươn chân trước nắm lấy bờm túm xuống ở bệ chùa Lam Sơn thì chưa hề gặp ở những con rồng trước đó. Ba bông cúc nở xen giữa những nhành lá dàn trải kín xung quanh với đôi bên là hai con rồng chầu vào - tiêu bản trên bệ ở chùa Long Hoa cũng là một thí dụ, rồi hình hươu, cành hoa, sư tử nhỏ nhiều tư thế vờn cầu trên bệ ở chùa Lam Sơn cho đến lúc này cũng mới xuất hiện trên các bệ thờ.

Như vậy là ba bệ thờ đá hoa sen ở Hà Nam, cùng các bệ thờ ở các địa phương khác với nghệ thuật điêu khắc đã góp phần làm phong phú, đa dạng thêm kho tàng văn hóa nghệ thuật thời Trần.

Ba bệ thờ thời Trần ở Hà Nam không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn góp phần cung cấp những thông tin về tình hình Phật giáo, cảnh quan xã hội thời Trần trên vùng đất Hà Nam.

Như đã phân tích ở trên, kỹ thuật chế tác các bệ đạt đến trình độ cao, nghệ thuật công phu, trau chuốt phần nào cho chúng ta thấy Phật giáo, mà cụ thể là các ngôi chùa trên đất Hà Nam đã dành được sự quan tâm đặc biệt. Kết hợp với các nguồn tư liệu khác như bia ký (bia chùa Dầu) tư phả, truyền thuyết thì lúc bấy giờ khá nhiều ngôi chùa đã được các làng xã xây dựng và cũng có thể đã xuất hiện một số trung tâm Phật giáo trên vùng đất Hà Nam, như chùa Đọi, vùng đất Đinh Xá (thành phố Phủ Lý), Liêm Cần (Thanh Liêm).

Hình hươu trên bệ thờ ở chùa Lam Sơn đã mách bảo về môi trường cảnh quan của một vùng đất nay thuộc xã Tân Sơn (Kim Bảng) và phụ cận thời Trần còn là một vùng rừng rậm có nhiều loại thú rừng sinh sống và mãi tận đến thời Lê Trung Hưng chúng ta lại bắt gặp thông tin đó qua hình sư tử khắc trên bia Ma nhai (bia tạc trực tiếp vào vách đá tự nhiên) ở Lạt Sơn (Thanh Sơn, Kim Bảng).

Ba bệ thờ đá hoa sen như đã miêu tả ở trên là di vật đặc sắc, độc đáo rất có giá trị, góp phần nghiên cứu về mảnh đất, con người Hà Nam thời Trần.

Nguồn tin: baohanam.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên kết

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây