Trống đồng Ngọc Lũ và nghệ thuật âm nhạc, múa của người Việt cổ

Chủ nhật - 07/04/2019 22:11
Trống đồng Ngọc Lũ, niên đại cách ngày nay trên 2.500 năm, được xếp vào loại H1 Heger (*) là trống đồng cổ nhất, đẹp nhất được phát hiện ở Việt Nam
Trống đồng Ngọc Lũ và nghệ thuật âm nhạc, múa của người Việt cổ

Đôi nét về xuất xứ, hình dáng, hoa văn

Trống vốn để ở đình làng Ngọc Lũ (Bình Lục). Năm 1903, viên Công sứ Hà Nam làm môi giới đưa trống về Nhà Bác cổ Viễn đông Hà Nội. Trống hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. Tại tỉnh Hà Nam có 2 phiên bản trống, theo tỉ lệ 1/1 được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh, theo tỉ lệ 1,5/1 đặt ở tiền sảnh Nhà văn hóa tỉnh.
Trống cao 63 cm, hình dáng cân đối, hài hòa, kết cấu trống gồm bốn phần. Mặt trống có đường kính 79cm hơi tràn ra ngoài, nối liền với phần phình ra gọi là tang trống. Thân trống có hình trụ tròn thẳng đứng. Phần cuối cùng là chân trống hơi loe tạo thành hình nón cụt. Gắn giữa tang và thân trống là đôi quai kép đối xứng ở hai bên, trang trí hoa văn bện hình bông lúa còn gọi là văn bện thừng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem hoa văn Trống đồng Ngọc Lũ. Ảnh tư liệu

Trong các trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ là trống có hoa văn dày đặc, phong phú nhất và chia làm hai loại: một loại hoa văn cách điệu hình người, động vật, đồ vật và loại kia hoa văn hình kỷ hà (hình học) đa dạng.
Chính giữa mặt trống là hình mặt trời đúc nổi 14 cánh (tia), có người lại cho là hình ngôi sao. Xen giữa các cánh có những họa tiết hình lông công mang ý nghĩa phồn thực. Từ tâm trống ra rìa trống có tất cả 16 vành hoa văn đồng tâm. Các vành 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 11, 12, 13, 14, 15 đều là hoa văn kỷ hà. Quan trọng nhất ba vành hoa văn 6, 8, 10 có hình người và động vật... diễu hành ngược chiều kim đồng hồ. Đặc biệt, vành 6 chia thành hai bán viên đối xứng và gần giống nhau thể hiện hình ảnh con người, nhà cửa, vật dụng, nhạc khí, chim chóc gắn với hoạt động của con người... Trên tang trống, đoạn tiếp giáp với mặt trống có 6 vành hoa văn hình học. Bên dưới đoạn này là hình 6 con thuyền, xen giữa các thuyền có những con chim trong tư thế đứng. Trên các con thuyền đều có hình ảnh trống đồng, tất cả có 15 chiếc trống. Đoạn cuối cùng của tang trống là 3 vành hoa văn hình học.
Khác với mặt trống, tang trống hoa văn được sắp xếp thành vành thì ở thân trống hoa văn lại bố trí thành băng, chạy dọc hình chữ nhật. Tất cả có 6 băng, trong mỗi băng có hình 2 vũ sĩ cầm rìu. Chân trống để trơn, không trang trí hoa văn.
Trống đồng Ngọc Lũ tuyệt tác/ trội vượt về nhiều mặt: kỹ thuật luyện kim, đúc đồng, giá trị lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, nghệ thuật... hàm chứa nhiều thông tin còn cần được giải mã, còn tốn không ít công sức của các nhà nghiên cứu muốn khám phá, đi sâu. Trống đồng Ngọc Lũ nói riêng và trống đồng Đông Sơn nói chung là biểu tượng đặc sắc của thời đại Hùng Vương dựng nước - đỉnh cao của nền văn minh Đông Sơn/văn hóa Việt cổ.

Nghệ thuật âm nhạc và múa

Cùng với các tư liệu khảo cổ khác tư liệu hoa văn trống đồng Ngọc Lũ góp phần quan trọng phác họa về âm nhạc và múa của người Việt cổ.
Trước hết, trống đồng Ngọc Lũ là một loại nhạc khí "Tự thân vang" diễn tấu độc lập hay tạo tiết tấu cho dàn nhạc, cho ca múa. Bằng tài nghệ, người xưa đã pha trộn hợp kim đúc trống tạo được âm sắc trầm hùng. Nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo đã tiến hành thực nghiệm định âm trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, tìm ra được thanh âm cổ thời ấy. Chính tâm được nốt Mi, vành hoa văn 1 và 3 được nốt Si giáng, vành hoa văn 4, 5 được nốt Mi, Fa, vành hoa văn 7 được nốt Si giáng. Từ vành hoa văn 9 ra rìa trống lại được nốt Mi. Một thang âm độc đáo, chỉ gồm 3 nốt kết hợp liền bậc và nhảy quãng.
Kết cấu trống đồng Ngọc Lũ cũng tạo ra một thùng âm thanh có tác dụng khác nhau. Tang trống phình: cộng hưởng âm thanh; phần hình trụ tròn tức thân trống nắn âm thanh; chân trống loe: tán phát âm thanh vang xa hơn. Qua hình ảnh trên trống còn cho thấy người xưa đào một hố đất rồi đặt trống giữa hố, tạo nên hộp cộng hưởng thứ hai, khiến tiếng trống càng trầm hùng, mạnh mẽ, vang xa hơn nữa. Người thời Trần về sau đã tạo ra trống quân theo cách này.
Không chỉ sử dụng trống đồng đơn chiếc làm nhạc cụ. Hoa văn trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện cảnh hòa tấu với nhạc công ngồi cầm dùi đánh trên mặt 4 chiếc trống đồng theo phương thẳng đứng.
Cùng với trống đồng, người Việt cổ còn sử dụng trống da. Hình ảnh trên trống Ngọc Lũ khá rõ, xuất hiện trong hai trường hợp: ở thuyền chiến và ở nhà sàn, có vật nâng đỡ trống. Có thể suy đoán trống da đã được dùng làm hiệu lệnh khi đánh trận và dùng làm nhạc cụ đệm cho ca múa.
Trên mặt trống đồng Ngọc Lũ có hình ảnh hai nhà cầu mùa treo dàn chiêng đối xứng qua hình mặt trời ở tâm trống. Trong nhà cầu mùa thứ nhất có hình một người một tay xách chiếc chiêng to, tay kia cầm dùi đánh, hai bên là hai dàn chiêng mỗi dàn đều 7 chiếc. Trong nhà cầu mùa thứ hai có một người đứng giữa hai dàn chiêng, hai tay đều cầm dùi đánh vào chiêng, dàn chiêng bên trái có 8 chiếc, dàn chiêng bên phải có 7 chiếc.
Hoa văn mặt trống đồng Ngọc Lũ cũng cho thấy sự xuất hiện các nhạc cụ gõ khác như chuông, sênh, phách. Đó là hình ảnh một người đang lắc quả chuông trong đoàn người nhảy múa và nhóm người múa tay đều cầm phách hoặc sênh.
Nhạc cụ duy nhất thuộc bộ hơi là khèn. Đây là loại khèn bè có từ 4 đến 6 ống thành đoạn riêng không liền với đoạn dưới. Hình ảnh trên trống đồng Ngọc Lũ, cùng với âm nhạc còn biểu hiện về nghệ thuật múa khá phong phú, sinh động trong các trạng huống khác nhau chẳng hạn cảnh đoàn người múa với trang phục đẹp, đội mũ lông chim hoặc bông lau. 
Đó còn là lối ca múa cặp đôi giao duyên hay hình ảnh trong ngôi nhà sàn mái cong hình thuyền đôi nam nữ ngồi đối diện tay chân giao vào nhau, bên cạnh lại có người đánh trống da giữ nhịp, phải chăng là đang thực hành nghi lễ của tín ngưỡng phồn thực, âm dương giao đãi, cầu mong sinh sôi nảy nở. Cảnh múa hát còn gắn với lao động. Đôi nam nữ cầm chày giã gạo theo phương thẳng đứng, đầu chày được trang trí. Bên cạnh mỗi đôi giã gạo lại có một người đánh chiêng hoặc gõ sênh phách giữ nhịp cho tiếng chày mà bản thân tiếng chày cũng có tính tiết tấu. 
Còn có cảnh múa đông người theo đội hình hàng dọc, vừa đi vừa múa trong vòng tròn, hướng chuyển động ngược chiều kim đồng hồ. Trang phục của vũ công là trang phục ngày hội, tay trái cầm đạo cụ, tay phải múa cách điệu. Trên mặt trống đồng Ngọc Lũ cũng gặp hình ảnh múa khèn bè của hai vũ công.

Đến đây có thể đưa ra một số nhận xét khái quát về nghệ thuật âm nhạc, múa của người Việt cổ được thể hiện qua hoa văn của trống đồng Ngọc Lũ. Trước tiên chúng thấy sự phong phú, đa dạng trong hình thái biểu hiện của hai loại hình nghệ thuật này, luôn trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, về âm nhạc, nổi bật là vai trò của bộ gõ, chủ đạo là trống đồng ngoài ra còn có trống da, chuông, chiêng, sênh, phách, khèn bè. Thang âm Mi - Fa - Si giáng đã định hình tạo ra bản sắc âm nhạc. Âm nhạc thời ấy thiên về tiết điệu, tiết tấu. Khi sử dụng nhạc cụ người Việt cổ hay sử dụng cùng lúc nhiều nhạc cụ và đã có sự phối âm, phối khí sơ khai, về múa có múa đôi, múa tập thể, đội hình hàng dọc hoặc vòng tròn. Chủ đề múa ta thấy có múa hát giao duyên nam nữ, múa tín ngưỡng, múa sinh hoạt, múa hội hè. Cuối cùng về nguồn gốc có thể nhận định: Nghệ thuật âm nhạc, múa thời đại Hùng Vương đã ra đời và gắn bó chặt chẽ với tâm linh, tín ngưỡng, lao động sản xuất của con người thời ấy.
Hà Nam là nơi phát hiện trống đồng Ngọc Lũ. Với vị thế tiêu biểu, trội vượt đứng đầu dòng trống đồng của văn minh Đông Sơn. Năm 1962, Bác Hồ đã chăm chú xem trống đồng Ngọc Lũ trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Trống đồng Ngọc Lũ cũng đã được phiên bản theo tỉ lệ 1/1 và ngày 25/10/1995, đã được Chủ tịch nước Lê Đức Anh thay mặt Nhà nước và nhân dân Việt Nam trao tặng Liên Hợp quốc như là biểu tượng của văn hóa Việt Nam. Cũng ngay từ đợt đầu tiên, Trống đồng Ngọc Lũ đã được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận là Bảo vật quốc gia.  
*) Heger, học giả người Áo đã phân loại các trống đồng được phát hiện ở Việt Nam và Hoa Nam (Trung Quốc) theo trật tự niên đại thành 4 loại: I (Sớm nhất), II, III, IV (muộn nhất). Ngoài ra, cũng phát hiện được một trống đồng khác được các nhà khảo cổ học gọi là Ngọc Lũ II có niên đại muộn hơn, hoa văn kém phong phú hơn rất nhiều so với Trống đồng Ngọc Lũ I.            

Tác giả bài viết: Mai Khánh

Nguồn tin: baohanam.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên kết

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây